hỏi đáp sức khỏe trẻ sơ sinh

Giấy khám sức khỏe là một trong những sách vở quan trọng trong hồ sơ xin việc. Cộng đồng tâm sự & hỏi đáp sức khoẻ không nhiễm bất kể loại bệnh nào tại thời gian nộp hồ sơ. Vì vậy lệ phí khám sức khỏe đi làm trở thành điều được rất nhiều người chăm Phòng tránh thai Mang thai Trẻ em Sau sinh Gửi Câu hỏi Tìm Câu hỏi. Trót nhuộm tóc khi không biết mình mang thai Em hiện tại đang mang thai ở tuần thứ 4. Nhưng vào tuần thứ 2 của thai kỳ do sơ ý không biết có bầu nên mình có đi nhuộm tóc. Giới Tính Sức Khỏe Sinh Sản Mang Bệnh viện Tràng An - Địa chỉ khám sức khỏe cho người lao động uy tín. Bệnh viện Tràng An là một trong 76 địa chỉ khám sức khỏe đi quốc tế được công nhận .Khám sức khỏe tại Bệnh viện Tràng An có đội ngũ bác sĩ, phương tiện đi lại tân tiếnVới đội ngũ bác sĩ giỏi, giàu kinh nghiệm tay nghề xét Lừa Đảo Vay Tiền Online. Bạn có thể tham khảo một số tư thế cho bé bú để mẹ cảm thấy thoải mái. 2. Cách cho bé ợ hơi sau khi bú Dù bạn cho bé bú mẹ hay uống sữa công thức, sau khi bé bú no, hãy cho bé ợ hơi, để tránh tình trạng ọc sữa. Để cho bé ợ hơi, hãy bế bé ở tư thế vác vai, bụng bé áp sát vào ngực bạn, vỗ nhẹ lưng bé. Bế bé ở tư thế đó trong khoảng 10 – 15 phút, bạn hãy giữ đầu và cổ bé cẩn thận vì cổ bé sơ sinh còn rất yếu. Việc ợ hơi này giúp bé hạn chế bị ọc sữa sau khi bú no và tình trạng trào ngược dạ dày thực quản vì chức năng của van giữa thực quản và dạ dày của bé sơ sinh chưa hoàn thiện. >>> Bạn có thể xem thêm Bé hay ợ sữa hoặc nôn ói Có nguy hiểm không? 3. Cách chăm sóc trẻ sơ sinh Đặt bé ngủ sao cho đúng? Phòng ngủ của bé nên sạch sẽ, thoáng mát và yên tĩnh để bé dễ ngủ. Với trẻ sơ sinh đủ tháng, khỏe mạnh, nhiệt độ phòng thích hợp là khoảng 28ºC. Nếu dùng điều hòa, bạn không nên để nhiệt độ phòng quá thấp vì có thể khiến bé bị cảm lạnh dù đã được quấn khăn và đắp chăn đầy đủ. Song bạn cũng không nên để con ngủ trong phòng có nhiệt độ cao khiến con dễ đổ mồ hôi gây ngứa ngáy, khó chịu, bé ngủ không ngon giấc. Việc ngủ ngon giấc sẽ giúp trẻ phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Trẻ chỉ có thể ngủ ngon khi được bú no, cơ thể sạch sẽ, phòng ngủ yên tĩnh, thoáng mát. Bạn có thể massage nhẹ nhàng cho bé trước khi con ngủ. Bạn có thể cho bé nằm nôi và đung đưa nhẹ, hát ru khe khẽ hoặc mở nhạc êm dịu để bé dễ ngủ hơn. Bạn nên tránh cho bé ngủ ở tư thế nằm sấp, nếu cho trẻ nằm sấp thì phải theo dõi cẩn thận vì trẻ dễ có nguy cơ đột tử. Thêm một lưu ý nhỏ nhưng rất quan trọng là bạn không nên để gối, thú nhồi bông… xung quanh trẻ. Những thứ này dễ khiến trẻ bị ngạt thở nếu chẳng may chúng đè vào mũi bé. Cách chăm sóc trẻ sơ sinh từ 0 – 6 tháng tuổi Cách vệ sinh, tắm rửa cho trẻ, chăm sóc rốn 1. Cách thay tã cho trẻ sơ sinh Bạn có thể cho bé dùng tã vải hay tã giấy hoặc dùng xen kẽ cả hai loại tã để tiết kiệm. Khi chọn tã giấy cho con, bạn nên chọn loại có kích cỡ thích hợp, có tính năng chống hăm, ngứa. Nếu cho con dùng tã vải, bạn nên chọn loại có chất liệu cotton mềm, thấm nước tốt. Bạn nên thay tã cho bé ngay sau khi bé tè đầy hay ị. Khi thay, phải vệ sinh sạch vùng hậu môn và bộ phận sinh dục của bé bằng khăn mềm và nước ấm theo hướng từ trước ra sau. Bạn hãy thoa kem chống hăm hoặc kem bảo vệ da trước khi mặc tã mới cho trẻ. >>> Bạn có thể quan tâm Mẹ nên sử dụng tã vải hay tã giấy cho bé? 2. Cách tắm cho trẻ sơ sinh Chuẩn bị chăm trẻ sơ sinh trước khi tắm Để tiện dụng, bạn nên dùng sữa tắm gội 2 trong 1 dành cho trẻ sơ sinh để tắm cho bé. Trước khi tắm, bạn cần chuẩn bị đầy đủ các thứ sau Rửa tay thật sạch. Lưu ý, khi chăm sóc trẻ sơ sinh, bạn không nên để móng tay dài hay đeo nữ trang có bề mặt xù xì hay sắc cạnh, vì chúng có thể làm trầy xước da bé. Khăn xô khổ nhỏ, khăn xô khổ lớn, quần áo, mũ, bao tay, vớ… Gạc, bông gòn, tăm bông, băng rốn vô trùng. Nước muối sinh lý 0,9%. Trước khi tắm cho bé, hãy tắt quạt, tắt máy lạnh, cởi áo và tã rồi tiến hành massage cho bé. Dùng nước sạch pha với nước sôi để tắm cho bé. Nước có nhiệt độ khoảng 36 – 38°C là thích hợp. Nếu không có nhiệt kế đo nhiệt độ nước tắm, bạn có thể dùng cùi chỏ tay để thử. Lưu ý là trong khi tắm cho bé, bạn nên trò chuyện âu yếm với trẻ để con cảm nhận được tình yêu thương. Bước chăm sóc bé sơ sinh khi tắm Khi đã chuẩn bị mọi thứ, bạn tiến hành tắm cho trẻ theo các bước sau Đặt bé nằm trên giường hoặc mặt phẳng, dùng bông gòn thấm nước muối sinh lý lau mắt cho bé theo hướng từ trong ra ngoài. Dùng tăm bông để làm sạch lỗ mũi bé. Lau mặt. Bế bé lên và gội đầu cho bé Ngón cái và ngón đeo nhẫn của bàn tay bế bé ép nhẹ 2 vành tai vào sát lỗ tai để tránh nước chảy vào tai bé, tay kia dùng khăn gạc thấm nước làm ướt tóc bé. Tiếp theo, bạn lấy một ít dầu gội thoa đều lên tóc bé rồi xả lại cho sạch, dùng khăn lau khô đầu bé. Khi bé chưa rụng rốn, bạn nên dùng khăn mềm lau người cho bé, tránh làm ướt rốn. Nếu muốn tắm cho bé, bạn đặt bé vào trong chậu nước có hòa sẵn chút sữa tắm để tắm nhưng sau đó cần lau khô vùng rốn cho bé, tránh nhiễm khuẩn. Cho trẻ sang chậu nước tắm khác để tắm cho sạch lại. Đặt trẻ nằm trên giường hoặc mặt phẳng có lót khăn xô khổ lớn, dùng khăn lau khô và ủ ấm cho trẻ. Nhỏ nước muối sinh lý để làm sạch mắt, mũi rồi dùng bông gòn lau từ trong ra ngoài. Dùng tăm bông/bông gòn để làm sạch vùng bên ngoài tai cho trẻ. Tránh để đầu chai nước muối hay thuốc nhỏ mắt chạm vào mắt, mũi trẻ. Nhỏ nước muối sinh lý lên gạc rơ lưỡi để làm vệ sinh miệng cho bé. Dùng bông gòn thấm sạch nước quanh rốn, dùng tăm bông thấm nước muối sinh lý lau khô rốn. Bạn nên để rốn thoáng, tránh quấn băng gạc ngay nhằm giúp rốn mau khô, nhanh rụng hơn. Mặc áo, tã, bao tay, vớ và cho bé bú ngay nếu thấy bé có nhu cầu. >>> Bạn có thể quan tâm Mách bạn 4 cách cho con bú không bị sặc sữa Nếu muốn cắt móng tay cho bé yêu, bạn hãy cắt sau khi bé vừa tắm xong. Lúc này, bé đang thoải mái và móng lại rất mềm, dễ cắt. Ngoài ra, bạn cũng có thể đợi cho bé ngủ say rồi cắt. Việc cắt móng tay, móng chân thường xuyên sẽ giúp móng tay, móng chân bé không bị xước, hạn chế tình trạng móng xước móc vào bao tay, vớ khiến bé đau, khó chịu hoặc bé tự làm đau mình. 3. Cách chăm sóc rốn cho trẻ sơ sinh Việc chăm sóc trẻ sơ sinh đúng cách là cần phải biết cách chăm sóc rốn cho trẻ sơ sinh. Cuống rốn của trẻ sơ sinh là một vết thương hở, nếu không được chăm sóc đúng cách sẽ rất dễ bị nhiễm trùng. Đây là một tình trạng rất nguy hiểm, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây biến chứng nhiễm trùng máu ở trẻ. Các bước vệ sinh rốn cho trẻ Việc chăm sóc rốn cho trẻ sơ sinh phải được làm hằng ngày và theo các bước sau Trước khi chăm sóc rốn cho trẻ, bạn cần rửa tay thật sạch, sát trùng tay bằng cồn 90°. Nhẹ nhàng tháo băng rốn và gạc rốn ra. Quan sát mặt cắt rốn và vùng quanh rốn xem rốn có bị viêm đỏ, có mủ, chảy dịch vàng, chảy máu, có mùi hôi hay có bất kỳ bất thường nào khác không. Lau rốn bằng bông gòn với nước chín vô trùng, sau đó thấm khô vùng cuống rốn và chân rốn. Sát trùng vùng da quanh rốn bằng nước muối sinh lý. Có thể để hở rốn hoặc chỉ cần che rốn bằng một lớp gạc mỏng vô trùng. Quấn tã vùng dưới rốn, tránh để phân, nước tiểu hay bất kỳ thứ gì vấy bẩn vùng rốn. Lưu ý khi vệ sinh rốn cho bé Nếu phát hiện một trong các dấu hiệu sau, hãy đưa bé đi khám tại chuyên khoa nhi ngay Rốn rỉ nước vàng, có mùi hôi hoặc có mủ. Rốn chảy máu nhiều và khó cầm. Da quanh rốn sưng, đỏ. Rốn có chồi, rỉ nước kéo dài. Rốn chưa rụng dù bé đã sinh được 3 tuần. Nếu thấy rốn con có dấu hiệu bất thường, bạn tuyệt đối không được cho bé dùng bất cứ loại thuốc gì khi chưa có chỉ định của bác sĩ. >>> Bạn có thể quan tâm 4 cách đơn giản giúp bạn chăm sóc rốn cho trẻ sơ sinh Chăm sóc da cho trẻ sơ sinh 1. Cách chăm sóc da nhạy cảm cho bé Làn da của trẻ sơ sinh rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương nên việc chăm sóc da cho bé cần phải được chú trọng. Việc chăm sóc da, chọn các sản phẩm chăm sóc da cần tuân thủ một số nguyên tắc sau Tránh tiếp xúc với các tác nhân gây kích ứng Bạn hãy chọn mua loại quần áo có chất liệu mềm, cắt bỏ nhãn mác. Dù sự cọ xát là nhẹ nhưng lặp đi lặp lại cũng có thể khiến da trẻ bị trầy xước dễ dẫn đến viêm nhiễm. Dùng xà phòng loại dành cho trẻ nhỏ hay cho da nhạy cảm để giặt đồ cho bé. Bạn nên dùng các sản phẩm nhẹ dịu đã được kiểm chứng lâm sàng để tránh kích ứng da. Hạn chế để da bé tiếp xúc với phân và nước tiểu Bạn thay tã cho bé ngay sau khi bé tè hay ị. Chọn loại tã phù hợp cho bé. Việc không thay tã thường xuyên kể cả tã vải, tã giấy và môi trường nóng ẩm có thể khiến da bé bị nhiễm trùng, nhiễm nấm. Mỗi khi thay tã cho bé, bạn cần rửa sạch vùng mặc tã với chất làm sạch nhẹ dịu và lau khô cho bé. Tránh để các chất độc hại có thể ảnh hưởng đến mắt bé Trẻ sơ sinh chưa có phản xạ nhắm mắt và bài tiết nước mắt nên bạn cần giữ bé tránh xa khói thuốc lá hoặc nơi môi trường bị ô nhiễm. Dùng các sản phẩm chăm sóc da và tóc nhẹ dịu, không gây cay mắt. Tránh các sản phẩm làm sạch có chứa cồn hoặc xà phòng có chất tẩy mạnh. Luôn giữ cho da bé có độ ẩm thích hợp Khí hậu khô hanh hoặc tắm rửa nhiều quá có thể khiến da bé mất nước. Bạn nên thoa kem dưỡng da ở những vùng da khô hay bong tróc của bé. Hạn chế tác động đến sự cân bằng của các loại vi khuẩn thường trú trên da của trẻ Các chủng vi khuẩn thường trú trên da trẻ sơ sinh có ngay sau khi bé sinh ra. Chúng hiếm khi gây bệnh trừ khi da có vết thương hở hoặc độ axit tự nhiên trên da bị phá hủy. Do vậy, bạn cần phải giữ cuống rốn luôn sạch và khô, thoáng. Tắm cho bé bằng loại sữa tắm nhẹ dịu và có độ pH cân bằng phù hợp với làn da của trẻ. Ngoài ra, bạn nên cho trẻ tắm nắng hàng ngày để con có đủ lượng canxi cần thiết cho quá trình phát triển. Việc phơi nắng cho trẻ sơ sinh còn là cơ hội cho bé tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nâng cao sức đề kháng cho trẻ. >>> Bạn có thể quan tâm Bí quyết chọn kem dưỡng da cho bé có làn da rất nhạy cảm đúng cách 2. Theo dõi tình trạng vàng da của trẻ sơ sinh Tình trạng vàng da sơ sinh là khá phổ biến. Nhiều thống kê cho thấy 25 – 30% trẻ sinh đủ tháng và gần 100% trẻ sinh non, nặng dưới 1,5kg bị vàng da. Trẻ sơ sinh bị vàng da sẽ rất nguy hiểm nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Nguyên nhân, tình trạng vàng da dễ gây ra biến chứng do tình trạng nhiễm độc thần kinh dẫn đến tỷ lệ tử vong cao, di chứng nặng nề. Do đó, bạn cần đưa con đi khám ngay nếu thấy bé có dấu hiệu vàng da. Hãy lưu ý rằng tình trạng vàng da ở trẻ chỉ được coi là vàng da sinh lý tại thời điểm được khám nếu có đầy đủ các tiêu chuẩn sau Vàng da xuất hiện sau khi sinh 24 giờ. Bé bị vàng da và hết trong vòng 1 tuần với trẻ sinh đủ tháng và 2 tuần đối với trẻ thiếu tháng. Mức độ vàng da nhẹ chỉ ở vùng mặt, cổ, ngực. Chỉ vàng da và không có các triệu chứng bất thường khác như trẻ bị thiếu máu, gan lách to, bé bỏ bú, lừ đừ… Nồng độ billirubin/máu không quá 12mg% ở trẻ sinh đủ tháng và không quá 14mg% ở trẻ sinh thiếu tháng. Tốc độ tăng billirubin/máu không quá 5mg% trong 24 giờ. Nếu con bạn có bất thường với một hoặc vài yếu tố kể trên, tình trạng vàng da của bé sẽ được xem là vàng da bệnh lý, bé cần được theo dõi và điều trị càng sớm càng tốt. Lưu ý, việc tắm nắng cho trẻ sơ sinh chỉ có thể điều trị được các trường hợp vàng da nhẹ nhưng sẽ giúp bạn theo dõi mức độ vàng da của bé dễ dàng hơn. Một số vấn đề khác trong việc chăm sóc trẻ sơ sinh 1. Cho bé chích ngừa đầy đủ, đúng lịch Cách chăm trẻ sơ sinh mẹ cần lưu ý Bạn hãy tìm hiểu trẻ cần phải chích ngừa những vắc xin gì và chích như thế nào? Hãy cố gắng ghi nhớ lịch tiêm chủng cho trẻ và cho bé chích đầy đủ, đúng lịch. Việc cho trẻ chích ngừa vắc xin giúp trẻ tránh được nhiều bệnh nguy hiểm. >>> Bạn có thể quan tâm Trẻ trong tình trạng nào thì không nên chích ngừa vaccine? 2. Cách chăm sóc trẻ sơ sinh Theo dõi nhiệt độ của trẻ Bạn nên mua một nhiệt kế để đo nhiệt độ cho trẻ bất cứ lúc nào. Khi thấy bé nóng sốt, bạn nên đo nhiệt độ cho bé trước khi cân nhắc đến việc có nên cho trẻ dùng thuốc hạ sốt hay không. Tùy theo thân nhiệt của bé, bạn có các điều chỉnh việc chăm sóc bé cho phù hợp Nhiệt độ bình thường của trẻ sơ sinh là 36,5 – 37,5°C. Nếu thân nhiệt của bé thấp hơn 36,5°C, bạn cần ủ ấm cho bé ngay. Nếu thân nhiệt của bé cao hơn 37,5°C, bạn nên bỏ bớt khăn, mền, cởi bớt quần áo, mũ, vớ, cho bé bú nhiều hơn, theo dõi nhiệt độ của bé thật kỹ. Nếu thân nhiệt của bé cao hơn 38°C, bé đã bị sốt. Bạn làm như trên, cho trẻ dùng thuốc hạ sốt theo đúng liều lượng và nhanh chóng đưa trẻ đến khám tại cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán kịp thời. Khi đo nhiệt độ cho trẻ sơ sinh, bạn cần lưu ý đến vị trí lấy nhiệt độ của bé Ở nách Bạn đặt nhiệt kế vào nách bé và giữ trong khoảng 2 phút, nhiệt độ ở nách cộng thêm 0,50C mới là nhiệt độ thực tế của bé. Ở hậu môn Bạn đặt nhiệt kế vào hậu môn bé và giữ trong 1 phút, nhiệt độ đo được ở hậu môn chính là thân nhiệt thật của bé. >>> Bạn có thể quan tâm Làm gì khi trẻ bị sốt? Mách mẹ cách xử lý hiệu quả 3. Cách chăm sóc trẻ sơ sinh hay khóc đêm Một số trẻ sơ sinh sẽ hay khóc đêm dân gian gọi là khóc dạ đề, Tây y gọi là hội chứng Colic. Khóc dạ đề thường gặp ở trẻ từ 2 – 16 tuần tuổi, cơn khóc của trẻ thường kéo dài khoảng 3 giờ hoặc hơn và hay xảy ra vào chiều, tối. Ngoài một số bệnh lý thực thể ở trẻ sơ sinh cần được bác sĩ nhi khoa khám và loại trừ, Colic là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ khóc đêm. Hội chứng này xảy ra ở 1/3 số trẻ sơ sinh và tự khỏi mà không cần phải điều trị. Bạn có thể tìm hiểu thêm về hội chứng Colic để biết cách chăm sóc trẻ sơ sinh khóc đêm nhé. Nếu việc mang nặng đẻ đau là một việc cực kỳ khó khăn thì việc chăm sóc trẻ sơ sinh càng khó hơn vạn lần, đặc biệt với những người lần đầu làm mẹ. Hello Bacsi chia sẻ một số kiến thức để giúp bạn dễ dàng hơn trong việc chăm sóc trẻ sơ sinh cũng như hiểu thêm về tâm lý của trẻ. - Nhiều chất dinh dưỡng hoàn hảo - Được hấp thu dễ, sử dụng có hiệu quả cao. - Bảo vệ trẻ chống lại nhễm khuẩn. - Giúp trẻ thông minh hơn so với ăn bằng sữa nhân tạo. - Chi phí its tốn kém hơn nuôi trẻ ăn bằng sữa nhân tạo. Nhiều bé sinh non vì nhiều lý do, thế nhưng sau khi sinh ra các bé đều phải bắt đầu một cuộc chiến mới, cuộc chiến này có khi sẽ rất nhẹ nhàng có khi cũng rất khốc liệt tùy vào tuổi thai và những vấn đề đi kèm của bé để giành lấy sự sống cho mình. Đối với các trường hợp sinh non, sữa mẹ là nguồn thức ăn và cũng được xem như là liều thuốc để giúp các bé này có thể vượt qua được các biến chứng của trẻ sinh non như viêm phổi, viêm ruột, thủng tạng rỗng, nhiễm trùng huyết…Sữa mẹ là một món quà tuyệt vời cho em bé sơ sinh của bạn. Lợi ích nó đem lại cho trẻ là không cần bàn cãi. Vậy thì đối với người mẹ, cho con bú mang lại lợi ích gì cho bản thân họ? Chúng ta cùng tìm hiểu câu trả lời có ở bài viết sau đây chăm sóc một em bé sơ sinh, chúng ta sẽ có xu hướng đánh giá sức khỏe bé thường xuyên thông qua sự bài tiết phân cũng như nước tiểu. Tuy nhiên, sự đi tiêu của mỗi em bé là không giống nhau. Điểm số Apgar được sử dụng để mô tả tình trạng tim mạch và hô hấp của trẻ sơ sinh. Điểm số không phải là một công cụ để hướng dẫn hồi sức hoặc điều trị tiếp theo và không xác định tiên lượng của một bệnh Apgar từ 0 đến 2 điểm cho mỗi yếu tố trong 5 yếu tố cần đánh giá bao gồm Da, Nhịp tim, Phản xạ, Cử động, Hô hấp – xem Bảng Điểm số Apgar Điểm số Apgar . Điểm số phụ thuộc vào sự trưởng thành về thể chất và cân nặng lúc sinh, can thiệp lúc sinh, và các tình trạng về tim phổi và trạng thái thần kinh của bào thai. Điểm 7 đến 10 tại 5 phút được coi là bình thường; 4-6 là trung bình; và 0 đến 3 là thấp. Thông thường, điểm số chỉ được ấn định ở phút thứ 1 và 5 sau khi ra đời. Nếu điểm số là ≤ 5 ở phút thứ 5 sau khi ra đời, điểm số sẽ tiếp tục được ấn định 5 phút một lần cho đến khi điểm > nhiều nguyên nhân có thể gây ra điểm Apgar thấp 0 đến 3, bao gồm các vấn đề nghiêm trọng, mạn tính có tiên lượng xấu và các vấn đề cấp tính có thể nhanh chóng được giải quyết và có tiên lượng tốt. Một số điểm Apgar thấp là một phát hiện lâm sàng và không phải là một chẩn đoán. Điểm số Apgar Điểm* Tiêu chuẩnTrí nhớ012 MàuAppearance Hình tháiTất cả đều xanh, nhợt nhạtThân màu hồng, chi xanhTất cả màu hồngNhịp timPulse MạchVắng mặt 100 nhịp/phútPhản xạ với ống thông mũi/kích thích xúc giácGrimace Nhăn mặtkhôngNhăn mặtHắt hơi, hoTrương lực cơActivity Hoạt độngKhập khiễngMột số chi bị gậpNăng vận độngHô hấpRespiration Hô hấpVắng mặtKhông đều, chậmTốt, khóc * Tổng số điểm là 7-10 tại thời điểm 5 phút được coi là bình thường; 4-6 là trung bình; và 0-3 là thấp. Chuẩn bị là điều cần thiết. Chuẩn bị là điều cần thiết Xác định các yếu tố nguy cơ chu sinh, phân công vai trò cho các thành viên trong nhóm, và chuẩn bị và kiểm tra thiết bị Ít nhất 1 người có kỹ năng trong các bước ban đầu của hồi sức sơ sinh, bao gồm thông khí áp lực dương PPV, nên có mặt ở mỗi lần sinh, và nhân viên bổ sung có khả năng hồi sức hoàn toàn nên nhanh chóng có mặt ngay cả khi không có các yếu tố nguy cơ cụ thể. Một nhóm gồm 4 thành viên trở lên có thể được yêu cầu cho việc hồi sức phức tạp, và tùy thuộc vào các yếu tố nguy cơ, nó có thể phù hợp với toàn bộ nhóm hồi sức trước khi khi sinh non, đặt nhiệt độ phòng đến 23 đến 25°C 74 đến 77°F.Nệm giữ nhiệt, mũ và túi ni lông hoặc bọc nên được sử dụng cho trẻ sinh non 5 giây. Hiệu quả của thông khí được đánh giá chủ yếu bằng việc cải thiện nhanh nhịp tim. Nếu nhịp tim không tăng trong vòng 15 giây, hãy điều chỉnh mặt nạ để đảm bảo niêm phong tốt, kiểm tra vị trí của đầu, miệng và cằm để đảm bảo đường thở được mở ra và/hoặc ống thông có kích thước từ 10 đến 12 F và đánh giá thành ngực. Tăng áp lực đường thở để đảm bảo thành ngực tăng lên đầy đủ. Mặc dù áp suất thở tối đa PIP nên được đặt ở mức tối thiểu mà trẻ đáp ứng, một PIP ban đầu từ 25 đến 30 cm H2O có thể cần để có đủ thông khí ở trẻ đủ thàng Trong hầu hết thời gian, trẻ sinh non cần áp lực thấp hơn để được thông khí đầy đủ. Bởi vì ngay cả những giai đoạn ngắn của thể tích khí lưu thông quá mức có thể dễ dàng gây tổn hại đến phổi của trẻ sơ sinh, đặc biệt ở trẻ sơ sinh non tháng, điều quan trọng là phải thường xuyên đánh giá và điều chỉnh PIP trong quá trình hồi sức. Các thiết bị đo lường và kiểm soát lượng khí trong quá trình hồi sức đã được mô tả và có thể hữu ích, nhưng vai trò của chúng hiện chưa được thiết lập. Kích thước của ống và độ sâu của ống nội khí quản được lựa chọn theo cân nặng và tuổi thai. Đối với đường kính ống nội khí quản 2,5 mm đối với trẻ 2000 g hoặc > 34 tuần tuổi thaiĐối với độ sâu chèn, điểm đánh dấu ở môi thường là 5,5 đến 6,5 cm cho trẻ sơ sinh có cân nặng < 1 kg7-cm đối với trẻ sơ sinh nặng 1 kg8-cm đối với trẻ sơ sinh nặng 2 kg9-cm đối với trẻ sơ sinh nặng 3 kgNhiều ống nội khí quản có các dấu chèn được đặt ở vị trí của dây thanh để hướng dẫn vị trí ban sau khi đặt nội khí quản, các bác sĩ lâm sàng nên lắng nghe âm thanh của hơi thở hai bên bằng nhau. Đặt nội khí quản chọn lọc của phế quản gốc phải với tiếng thở giảm ở bên trái là phổ biến nếu ống được đặt quá nội khí quản nên được xác nhận bằng cách kiểm tra CO2 thở ra bằng máy đo màu. Một xét nghiệm dương tính, trong đó chỉ số đo màu chuyển từ tím/xanh sang vàng, xác nhận đặt nội khí quản. Xét nghiệm âm tính thường là do đặt nội khí quản nhưng có thể xảy ra khi thông khí không đủ hoặc có cung lượng tim rất kém. Một màu vàng cố định có thể là do nhiễm bẩn trực tiếp bởi epinephrine hoặc có thể cho thấy thiết bị bị sâu của ống nội khí quản thích hợp sẽ dẫn đến việc đầu ống nằm khoảng nửa giữa xương đòn và xương đòn trên phim chụp X-quang ngực, gần trùng với mức đốt sống với trẻ sơ sinh ≥ 34 tuần hoặc ≥ 2000 g, có thể sử dụng mặt nạ thanh quản nếu có khó khăn trong việc đặt nội khí quản cho trẻ. Trẻ sơ sinh ở bất kỳ tuổi thai nào đều có thể được duy trì bằng PPV có bóng và mặt nạ thích hợp nếu các thành viên trong nhóm không thể đặt được ống nội khí quản. Ở những trẻ này, nên đặt một ống thông mũi-dạ dày để tạo điều kiện cho việc giải chèn ép dạ khi đặt nội khí quản, nếu nhịp tim không cải thiện và không đủ lực nâng ngực với áp lực cao nhất khi hít vào thì đường thở có thể bị tắc nghẽn. Ống thông có đường kính mỏng hơn 5 đến 8 F có thể làm sạch ống nội khí quản các chất tiết mỏng nhưng không có hiệu quả đối với các chất tiết đặc, máu hoặc phân su. Trong những trường hợp như vậy, ống nội khí quản có thể được loại bỏ trong khi hút liên tục bằng máy hút phân su và đôi khi có thể hút trực tiếp bằng ống thông lớn hơn 10 đến 12 F. Sau khi hút khí quản, trẻ được đặt ống trẻ sơ sinh được thông khí đầy đủ và nhịp tim vẫn còn < 60 nhịp/phút, nên thực hiện ép tim bằng cách sử dụng kỹ thuật bao gồm 2 ngón tay/kỹ thuật vòng ngực theo tỷ lệ phối hợp 3 lần ép 1 lần thở với 90 lần ép và 30 lần thở mỗi phút. Kỹ thuật ép ngực 2 ngón không còn được khuyến cáo nữa. Đặt nội khí quản, nếu chưa được thực hiện, luôn được chỉ định khi bắt đầu ép ngực, và nồng độ oxy phải được tăng lên 100%. Nhịp tim nên được đánh giá lại sau 60 giây ép tim. Nếu nhịp tim chậm nghiêm trọng vẫn tồn tại trong khi trẻ sơ sinh được thông khí đầy đủ và ép ngực trong 1 phút, hãy đặt ống thông tĩnh mạch rốn hoặc đặt một kim tiêm trong xương IO để tiêm epinephrine nội mạch càng sớm càng tốt. Trong khi tiếp cận được thiết lập, một liều epinephrine có thể được cung cấp qua ống nội khí quản, nhưng hiệu quả của con đường này là không rõ. Liều đề xuất của epinephrine là 0,02 mg/kg 0,2 mL/kg của dung dịch 0,1 mg/mL, trước đây được gọi là dung dịch 1 đường tĩnh mạch/trong xương, lặp lại khi cần 3 đến 5 phút một lần. Liều epinephrine đặt trong khí quản được đề nghị sử dụng trong khi thiết lập đường vào mạch là 0,1 mg/kg 1 mL/kg của dung dịch 0,1 mg/mL [dung dịch 1 Liều epinephrine cao hơn không được khuyến nghị. Nếu trẻ sơ sinh không đáp ứng với hồi sức và nhợt nhạt và/hoặc tưới máu kém, khuyến cáo nên tăng thể tích tuần hoàn 10mL/kg với muối đẳng trương 0,9% trong khoảng từ 5 đến 10 phút. Nên cho trẻ sơ sinh non tháng sử dụng liều tấn công dạng crystalloid hoặc colloid trong thời gian dài hơn 30 đến 60 phút vì nguy cơ xuất huyết não thất. Không trùng khớp, các tế bào hồng cầu đóng gói O âm tính cũng có thể được sử dụng để tăng thể tích, đặc biệt nếu có mất máu cấp tính. Các loại thuốc như natri bicarbonate và atropine không được khuyến cáo trong quá trình hồi sức. Naloxone không được khuyến cáo trong các bước đầu của việc điều trị suy hô hấp, và một nghiên cứu Cochrane 2018 không đủ bằng chứng để xác định tính an toàn và hiệu quả của thuốc này ở trẻ sơ sinh. Nếu trẻ sơ sinh không đáp ứng với hồi sức hoặc đột ngột xấu đi sau khi đáp ứng ban đầu, tràn khí màng phổi Tràn khí màng phổi Các hội chứng rò khí ở phổi liên quan đến sự giải phóng không khí ra khỏi phổi bình thường. Xem thêm Tổng quan các rối loạn hô hấp chu sinh. Sự mở rộng thay đổi sinh lý đi kèm với quá trình... đọc thêm phải được loại trừ. Mặc dù tràn khí màng phổi có thể bị nghi ngờ trên lâm sàng bằng cách phát hiện các âm thanh hơi thở giảm đi một bên khi nghe, nhưng âm thanh của hơi thở được truyền qua vùng trước tai và sự hiện diện của âm thanh hơi thở hai bên có thể dễ nhầm lẫn. Phẫu thuật xuyên thấu ngực có thể được sử dụng nhưng thường bị hạn chế do thiếu nguồn ánh sáng mạnh và không có khả năng làm tối căn phòng. Ngoài ra, tràn khí màng phổi có thể bị chẩn đoán sai ở trẻ nhỏ có da mỏng hoặc bị bỏ sót ở trẻ lớn có da dày. Chụp X-quang ngực thường mất quá nhiều thời gian để mang lại lợi ích thiết thực trong quá trình hồi sức, nhưng siêu âm tại giường cho phép chẩn đoán chính xác và nhanh chóng nếu có thể nhanh chóng. Do tràn khí màng phổi là một nguyên nhân có thể đảo ngược của sự không đáp ứng với hồi sức, nên xem xét kỹ lưỡng lồng ngực hai bên ngay cả khi không có chẩn đoán xác định. Trong một số trường hợp, chọc dò dịch màng phổi là chẩn đoán và điều trị cho tràn dịch màng phổi không nghi ngờ. Trong một số trường hợp, hồi sức có thể không thích hợp Trẻ sơ sinh có dị tật gây chết được chẩn đoán trước khi sinh Tham khảo ý kiến của gia đình trước khi sinh để đạt được một kế hoạch dễ chấp nhận. Ở trẻ sơ sinh có dị tật nặng không được phát hiện khi sinh, chẩn đoán ban đầu và/hoặc tiên lượng có thể không chính xác, do đó cần phải hồi sức. 1. Weiner GM, ed Textbook of Neonatal Resuscitation, ed. 8. Itasca, American Academy of Pediatrics, 2021

hỏi đáp sức khỏe trẻ sơ sinh